Đôi Điều Về Khấn Và Văn Khấn

- Văn khấn
Đôi Điều Về Khấn Và Văn Khấn

Từ ngàn đời nay, dân ta đã biết khấn thần linh, trời đất để xin công việc, sự nghiệp được theo ý nguyện. Và tương truyền có rất nhiều lời khấn rất linh nghiệm.



Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi được một bài khấn của vua Lý Thái Tổ. Lời lẽ rất linh thiêng cảm động cả quỷ thần, sử chép rằng: “Vào năm Nhâm Tý (Thuận Thiên thứ ba - 1012), vua cầm quân đi đánh giặc ở Diễn Châu, khi đến đất Vũng Biện (Biện Sơn - Tỉnh Gia - Thanh Hóa) gặp lúc trời đất tối tăm, gió sấm dữ dội, vua Lý đốt hương thành tâm khấn rằng:




Lý Thái Tổ
Lý Thái Tổ khấn thần linh trước khi đánh trận




“Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không cho giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận tỏ ý trách móc chỉ bảo thì dẫu gặp tổn hại củng không dám oán trách. Đến như sáu quân có sai phạm gì thì tội lỗi ấy có thể dung thứ, xin trời cao soi tỏ Lạ thay, lời khấn vừa dứt thì tròi quang mây tạnh, ba quân vô cùng mừng rỡ".



Đấy là điều được ghi trong chính sử, còn trong nhân gian thì lưu truyền rất nhiều câu chuyện linh ứng nhờ “lời khấn” của người làm lễ dâng hương với gia tiên Thánh thần và chư Phật, chư Bồ Tát, Thánh Hiền. Thực hư thế nào vẫn là chỗ bỏ ngỏ chờ các nhà nghiên cứu, còn với những người có tín ngưỡng, có lòng tin, tự biết mình là kẻ có lỗi đành phải khấn vái tứ phương cầu xin các đấng vô hình thiêng liêng, phù hộ, độ trì cho tai qua nạn khỏi, cho phúc đức lâm môn, cho nhân an vật thịnh...



Người Việt Nam thường rất coi trọng lễ nghĩa, đó là nét văn hóa truyền thống từ bao đời nay. Người xưa có câu “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ”. Thường nhật, chúng ta có công việc gì bầy biện cỗ bàn thật thịnh soạn để mời mọc khách đến nhà. Nhưng nếu ông chủ không có lời nói trước, thì khách nào dám đụng đũa. 



 



Đến dịp lễ tết, nếu như chúng ta làm mâm cỗ cao đầy dâng lên cầu cúng mà không có lời khấn, thì thần linh làm sao chứng giám cho được. Vậy nên dâng lễ cần có văn khấn để Giãi tỏ lòng thành. Đây cũng là một tập tục có từ rất lâu đời của người Việt Nam. Bài văn khấn cũng phản ánh một khát vọng sống, khát vọng chân chính của con người, mong được có cuộc sống ấm no hạnh phúc.



Điều Cốt Yếu Của Một Lời Khấn Và Cách  Khấn 



Khấn là sự bày tỏ tâm thành cầu xin của người làm lễ trước các đấng vô hình - linh thiêng như Bồ Tát, Phật tổ, thánh thần linh hồn của những người đã khuất... Chính vì vậy, điều cốt yếu của lời khấn là Thành tâm chứ chẳng phải ở những lời văn hoa mỹ, cầu kỳ. Cũng chẳng phải ở chỗ cầu cho nhiều là được nhiều.




Văn khấn
Khấn cốt ở thành tâm




Theo triết lý của nhà Phật thì Tâm tuy vô hình nhưng lại là sợi dây liên hệ ràng buộc vạn hữu. Còn các nhà Nho thì cho rằng: “Tâm động quỷ thần tri” (Nghĩa là Tâm ta thành kính mà cầu khẩn thần linh thì thần linh ắt thấu tỏ). Như thế, lời khấn cốt ở Tâm Thành. Và khi khấn cầu người ta không khấn to để mọi người xung quanh nghe thấy mà chỉ “khấn lâm râm” như chỉ đủ cho bản thân người khấn và đấng vô hình - linh thiêng hay biết. 



Ngày nay, có người thực thi dâng hương truyền thống nhưng lại “cách tân” chỉ cần thắp hương rồi đứng mặc niệm một chút trước bàn thờ, chẳng cần chắp tay, chẳng cần khấn vái, việc đó là tùy tâm. Nhưng theo chúng tôi chỉ cần bỏ phần rườm rà, mê tín dị đoan còn nên giữ lại cái hay của đạo lý, triết lý cố nhân cũng như vẻ đẹp văn hoá, mang tính chất giáo dục con người noi theo luật đạo đức, tập tục của cha ông. 



Trong thực tế khi thực thi tín ngưỡng truyền thông này không ít người lúng túng không biết khấn vái ra sao? Để có thể bày tỏ ước nguyện của mình đối với tổ tiên, Phật, Thánh. Vậy xin lưu ý những điều sau.



Mặc dù các tiết lễ đơn sơ nhưng cũng phải tuân theo những quy ước cổ truyền như:




  • Cúng Thần nội (tổ tiên): Thì không được nhập quán và xưng quốc hiệu (nêu địa chỉ).

  • Cúng Thần ngoại (Thổ công, Táo quân hay Thần thánh): Thì bắt buộc phải nhập quán và xưng quốc hiệu (nêu địa chỉ).



Ngoài ra:




  • Nếu Bố đã chết thì phải khấn là Hiển khảo

  • Nếu Mẹ đã chết thì phải khấn là Hiển tỷ.

  • Nếu Ông đã chết thì phải khấn là Tổ khảo.

  • Nếu Bà đã chết thì phải khấn là Tổ tỷ.

  • Nếu Cụ ông đã chết thì phải khấn là Tằng tổ khảo.

  • Nếu Cụ bà đã chết thì phải khấn là Tằng tổ tỷ.

  • Nếu Anh em đã chết thì phải khấn là Thệ huynh, Thệ đệ.

  • Nếu Chị em gái đã chết thì phải khấn là Thệ tỷ, Thệ muội

  • Nếu Cô dì, chú bác đã chết thì phải khấn là Bá thúc cô di tỷ muội.

  • Hoặc khấn chung là Cao tằng tổ khảo tỷ nội ngoại gia tiên.



Tùy theo lễ tiết mà cúng Thần ngoại, Thần nội trước hay sau, như:




  • Những ngày tuần, tiết thì phải khấn Thần ngoại trước, Thần nội sau.

  • Ngày giỗ gia tiên thì phải cáo yết Thần linh trước, sau mới cúng gia tiên.

  • Khi cúng giỗ ai phải khấn người đó trước rồi tiếp đến tổ tiên nội ngoại, thứ đến thần linh, chúa đất, sau cùng mới là tiền chủ, hậu chủ.

  • Còn những nghi lễ bất thường như động thổ, nhập trạch... thì cứ theo nghi thức trong văn là đủ.



Đặc biệt khấn Phật thì dù xưng địa chỉ hay không xưng địa chỉ, nói tên hay không nói tên cũng đều được cả, chỉ cốt giãi bày lầm lỗi và ăn năn trước Phật đài sau đến cầu nguyện những điều minh mong muốn là được.



 



Nhấn vào đây để đánh giá